Thông tin kỹ thuật hay về tài sản?

2015 tháng hai 04, 09:00 CEST

Các yêu cầu về công nghệ, quy định và hiệu quả thay đổi việc quản lý kiến thức kỹ thuật như thế nào

TÁC GIẢ: Valentijn de Leeuw, Phó Chủ Tịch, Tập Đoàn Tư Vấn ARC

Tầm Nhìn Kích Hoạt Sự Thay Đổi

Trong năm 2005, Thomas Tauchnitz của Sanofi-Aventis, một công ty dược phẩm hàng đầu, đã xuất bản một bài viết trong một ấn bản tiếng Đức của tạp chí Công Nghệ Tự Động Hóa trong Thực Tiễn, có tiêu đề "Đã đến lúc Tích Hợp việc Thiết Kế Quy Trình, Kỹ Thuật và các quy trình vận hành Nhà Máy'. Bài viết này bao gồm một tầm nhìn và chiến lược nhằm thực hiện khái niệm bằng cách sử dụng phần mềm máy tính. Tiến Sĩ Tauchnitz giải thích ba yêu cầu cơ bản cần được tuân thủ: mọi thông tin chỉ được tạo ra và lưu giữ ở chỉ một địa điểm, kiến thức hiện có được tái sử dụng khi có thể và các công cụ phần mềm vẫn duy trì tương tác trong khi nhà máy sản xuất đang hoạt động.

Tauchnitz phác thảo quy trình từ thiết kế quy trình bằng cách sử dụng phần mềm mô phỏng quy trình, chuyển giao các thông tin về quy trình cuối cùng cho một công cụ kỹ thuật được hỗ trợ bằng máy tính (CAE), phổ biến đến tất cả các ngành kỹ thuật liên quan đến kỹ thuật chi tiết và ngoại vi. Ông giải thích kỹ thuật theo mô-đun - khái niệm được biết đến từ nhiều năm trước - cần được thực hiện như thế nào: các mô-đun được tiêu chuẩn hóa bao gồm tất cả các chức năng được xây dựng, duy trì và thuyết minh cho một nhiệm vụ kỹ thuật cụ thể. Ví dụ như một mô-đun lò phản ứng sẽ chứa các van điều khiển và đo lường nhiệt độ và áp suất, van để chuyển vật liệu, điều khiển mức độ, thiết bị an toàn và tự động hóa, khuấy v.v. Danh sách thiết bị tương ứng, tài liệu thiết kế, quy trình đảm bảo an toàn, các quy trình kiểm tra và định tính cũng sẽ là một phần của mẫu. Thay vì kỹ thuật mỗi một thiết bị mới, thay thế, hiện đại hóa, sửa chữa từ đầu, kỹ sư sẽ chỉ cần giải quyết việc điều chỉnh và tích hợp trong một hệ thống lớn hơn và có nhiều thời gian hơn để tối ưu hóa thiết kế và cải thiện và bảo trì các mô-đun.

Kỹ Thuật Đồng Thời hay Cộng Tác?

 Ngày nay một số hệ thống CAE thông minh cung cấp khả năng cho một số ngành trong quá trình kỹ thuật của nhà máy để làm việc trên cùng một thiết bị, từ quan điểm của họ và sử dụng cách thức điển hình của riêng họ để xem công việc: lưu đồ quy trình (PFD) dành cho các kỹ sư quy trình, sơ đồ đường ống và đo kiểm (P&ID) dành cho các kỹ sư tự động hóa, đẳng cự cho đường ống, v.v.

Khi một số kỹ sư làm việc trên cùng một hạng mục, loại công cụ này giúp ích trong việc duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu kỹ thuật. Ví dụ: nếu một kỹ sư quy trình thay đổi nhiệt độ hoặc tốc độ dòng chảy tối đa trong ống, sau đó bơm có chức năng dịch chuyển chất lỏng này cần phải có đặc điểm kỹ thuật có thể xử lý những con số tối đa này và nếu không thể xử lý, công cụ sẽ tạo ra cảnh báo đối với đặc điểm kỹ thuật của bơm. Tương tự, đường kính ống phải có thể xử lý được tốc độ dòng chảy, và hơn nữa. Ngoài việc xử lý các quy tắc, các hệ thống này cũng có thể xử lý quy trình tác chủ, bao gồm cả các trạng thái trình, xem xét và xác nhận thay đổi.

Mặc dù đối với các công ty mua sắm và xây dựng kỹ thuật (EPC), kỹ thuật đồng thời có thể là một thực hành tiêu chuẩn kể từ khi bắt đầu sử dụng các công cụ CAE, ở một số công ty chủ sở hữu-điều hành (OO) kỹ thuật tuần tự là một chuẩn mực. Tạo điều kiện cho nhiều ngành cùng làm việc về một hạng mục thiết kế có ý nghĩa kinh tế, tổ chức và xã hội.

Các Khía Cạnh Văn Hóa và Xã Hội

Khi giới thiệu về kỹ thuật đồng thời, hoặc kỹ thuật tuần tự cộng tác bằng cách sử dụng một kho dữ liệu kỹ thuật duy nhất, người ta cần phải nắm được các quy trình và công nghệ mới. Điều gì có thể khó khăn hơn việc họ cần phải chia sẻ thông tin của họ, cách họ làm việc và lý do họ đưa ra quyết định. Đôi khi họ phải học cách cộng tác, bao gồm cả lắng nghe các ý kiến của người khác, xác định các quy tắc và trách nhiệm đã được thống nhất đối với những đóng góp khác nhau, đàm phán, hợp tác giải quyết vấn đề và giải quyết xung đột mang tính xây dựng. Sự thay đổi này có thể tạo ra một số rối loạn, vì mọi người phải rời khỏi vùng thoải mái của họ. Điều này có thể tạo ra xung đột và thất bại, nếu không được quản lý đúng cách. Các nhà quản lý kỹ thuật, những người chịu trách nhiệm cuối cùng đối với một thay đổi thành công cần phải có nhân viên và thay đổi kỹ năng quản lý. Họ có thể được hỗ trợ bởi các tư vấn viên phụ trách thay đổi, nhưng để thực hiện bền vững họ sẽ cần phải có những kỹ năng này để huấn luyện các cộng sự của mình lâu dài sau khi thực hiện thay đổi. Đây không phải là tùy chọn, vì không chỉ có môi trường làm việc, mà năng suất cũng phụ thuộc vào điều đó.

Mọi người trong một tổ chức cử xử theo niềm tin và quy tắc của tập thể. Trong nhóm, những niềm tin và quy tắc này được gọi là quy phạm, đối với tổ chức chúng được gọi là văn hóa. Một số các quy tắc và niềm tin này là hàm ẩn, tức là, chúng không được quy định rõ ràng mặc dù chúng đang hoạt động; một số có thể không rõ ràng và một số lại có thể mâu thuẫn với các quy tắc và nguyên tắc chính thức của công ty. Thay đổi văn hóa thành công đòi hỏi phải khám phá ra sự thật và làm cho nó rõ ràng, sau đó tạo ra một tầm nhìn mà kết nối các mục tiêu kinh doanh với nhu cầu của tập thể và từng bước thực hiện một nền văn hóa mới và duy trì nó. Một cuốn sổ tay hoặc khóa đào tạo có thể giúp đỡ điều này, tuy nhiên điều đó đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải gặp gỡ nhân viên, lắng nghe ý kiến và quan ngại của họ, giải thích, hành động dựa trên thông tin phản hồi của họ, thu hút họ tham gia vào việc thiết kế công việc và công nhận những nỗ lực của họ trong việc khiến thay đổi xảy ra.

Ảnh hưởng của Tổ Chức và Kinh Tế

Mặc dù CAE thông minh có thể kích hoạt kỹ thuật đồng thời, nhưng không phải tất cả các tổ chức kỹ thuật đều sử dụng nó. ARC đã thực hiện một nghiên cứu phi chính thức một vài năm trước đây giữa các tiểu ngành của các ngành quy trình, từ hóa dầu liên tục trên quy mô rộng lớn đến sản xuất dược phẩm tại một số châu lục. Khảo sát cho thấy khoảng một nửa người dùng CAE được sắp xếp vào nhóm có trình độ kỹ thuật đồng thời cao hoặc khá, nhưng một phần ba trong số họ thích sử dụng kỹ thuật tuần tự hơn. Mục đích của một số ngành kỹ thuật đồng thời hiện đang cùng làm việc trên một hạng mục thiết kế là để rút ngắn thời gian của dự án. Tuy nhiên người dùng đồng ý rằng điều này làm gia tăng lỗi và bước lặp đi lặp lại mà cuối cùng làm tăng tổng nỗ lực. Các công ty EPC có thể không có lựa chọn khi chịu áp lực lớn về thời gian nhưng đối với các công ty OO thiết kế kỹ thuật mang tính khái niệm không quan trọng và có thể đủ khả năng trang trải để kéo dài thời gian của dự án nhằm tiết kiệm nỗ lực kỹ thuật. Tình trạng tối ưu hóa kinh tế tạo cân bằng giữa chi phí dự án với giá trị từ sự sẵn sàng hoạt động sớm hơn có lẽ sẽ cho thấy sự tối ưu ở trình độ kỹ thuật đồng thời trung cấp. Trong cùng khảo sát này, người dùng đã chỉ ra rằng có thể tăng năng suất kỹ thuật từ 5 lên đến 50 phần trăm, liên quan đến việc tăng thời gian và tăng độ chính xác của dữ liệu, tùy thuộc vào trình độ kỹ thuật đồng thời được sử dụng, tuy nhiên điều này đi kèm với chi phí đầu tư đáng kể vào kỹ thuật theo mô-đun và mô hình hóa quy trình (xem dưới đây).

Kỹ thuật đồng thời và cộng tác có thể gây ra những điều chỉnh chi tiết nhỏ đối với quy trình và việc xác định trách nhiệm của các cá nhân cũng có thể xuất hiện như những rào cản về trình độ con người (xem ở trên), nhưng về mặt kỹ thuật tổ chức sẽ không bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng.

Công Nghệ Kỹ Thuật Theo Mô-đun và Quy Trình Theo Mô-đun

Tái sử dụng thông tin và kiến thức là một cách để gia tăng hiệu quả kỹ thuật. 'Nguyên tắc Tauchnitz' thứ hai về tái sử dụng kiến thức nhiều nhất có thể (xem trang 1) hàm ý việc tiêu chuẩn hóa các thiết kế theo mô-đun đã được chứng minh. Các thiết kế này đã sẵn sàng sử dụng các thông tin kỹ thuật cho các đơn vị hoặc phần của quy trình, bao gồm các thiết bị, dụng cụ, điều khiển, đường ống, máy bơm, thiết bị khuấy cơ học của quy trình, v.v. Một kỹ sư chọn một đơn vị hoặc phần của quy trình như vậy, thay vì phải vạch ra lại các phần và có thể tập trung vào hiệu suất của quy trình. Khi thiếu các mô-đun tiêu chuẩn, tài liệu cần phải mô tả các giải pháp cho nhiệm vụ kỹ thuật đã được sử dụng. Những thách thức liên quan đến kỹ thuật theo mô-đun là việc đầu tư đáng kể vào việc tạo ra các mô-đun. Đối với các công ty OO điều này là một khoản đầu tư có thể trả hết theo thời gian nhưng đối với các công ty EPC điều này có thể không kinh tế trừ khi EPC có thể chuẩn hóa trên một công cụ duy nhất và có khả năng xuất các thiết kế vào các công cụ CAE mà khách hàng của họ chỉ định.

Dự án Nhà Máy F3, được tài trợ bởi 25 công ty và Liên Minh Châu Âu (EU) và bao gồm bảy nghiên cứu trường hợp ngành, hoạt động từ năm 2009 đến năm 2013, với mục tiêu khắc phục những nhược điểm của việc xử lý liên tục trên quy mô lớn (độ bền vững và vốn đầu tư cao) và xử lý lô trên quy mô nhỏ (không hiệu quả) và kết hợp những lợi thế tương ứng bằng cách giới thiệu tính hiệu quả đến các cơ sở đa mục đích, đa sản phẩm; và tính linh hoạt đến các cơ sở liên tục có tầm cỡ thế giới. Các mục tiêu nghiên cứu bao gồm:

  • Cung cấp các thiết kế quy trình nhỏ gọn hơn và ít tốn kém hơn mà làm giảm tác động môi trường để hỗ trợ việc 'tăng cường quy trình'
  • Xây dựng thiết bị sản xuất hóa chất cắm là chạy, được tiêu chuẩn hóa, theo mô-đun và có khả năng xử lý nhiều quy trình hóa học
  • Phát triển các phương pháp kỹ thuật cho các quy trình được tăng cường
Dự án đã mang lại nhiều kết quả khả quan và một số quy trình theo mô-đun đã được phát triển. Tất cả đã chứng minh những thành tựu quan trọng ở cả khía cạnh chi phí và tính bền vững.

Ý tưởng là, để mở rộng năng lực sản xuất, nhà sản xuất chỉ cần bổ sung các đơn vị quy mô nhỏ, được tiêu chuẩn hóa; chứ không phải là xây dựng một nhà máy lớn hơn. Điều này làm giảm chi phí và thời gian kỹ thuật và làm giảm thêm chi phí cho thiết bị vì có thể xây dựng nhiều thiết bị hơn. Khái niệm này đòi hỏi một cách tiếp cận kỹ thuật mới mà tối ưu hóa quy trình trong phạm vi lựa chọn hạn chế các mô-đun tiêu chuẩn, chứ không phải điều chỉnh thiết bị để phù hợp với quy trình.

Xu hướng là sản xuất số lượng nhỏ hơn, giới thiệu những cải tiến từng bước một về sản phẩm và quy trình và đáp ứng linh hoạt với nhu cầu thị trường. Điều này cung cấp tiềm năng để khai thác sự linh hoạt của một nhà máy được thiết kế cho một loạt các tình trạng hoạt động và do đó thiết kế thiết bị để phù hợp với một phạm vi dự kiến, chứ không phải là tối ưu duy nhất. Việc sử dụng các hệ thống tối ưu hóa sản xuất và quản lý chất lượng thích ứng phù hợp với hướng dẫn cGMP mới nhất của FDA sẽ có lợi trong những điều kiện này vì chúng sẽ hấp thụ những thay đổi về quy trình và sự biến đổi trong tình trạng xử lý khi một số hoặc tất cả các sản phẩm cuối cùng vẫn giống hệt nhau.

Việc sử dụng khái niệm sản xuất theo mô-đun sẽ loại bỏ một loạt các nhiệm vụ kỹ thuật và xác nhận, vì việc tốc độ sản xuất khác nhau có thể được xử lý bằng cách điều chỉnh số lượng dây chuyền sản xuất cần thiết để sản xuất ra số lượng yêu cầu. Các dự án tương tự đã được thực hiện tại Viện Công Nghệ Massachusetts (MIT), tại Hoa Kỳ trong sự hợp tác với các nhà sản xuất.

Sáng kiến ngành Internet of Things (Thời Đại Internet của Mọi Vật) như Industrie 4.0 hoặc Industrial Internet Consortium (Liên Doanh Ngành trên Internet), đã dẫn dắt ngành công nghiệp, đặc biệt là khu vực sản xuất theo lô, suy nghĩ về cách thực hiện dây chuyền sản xuất cấu hình lại được mà có thể đáp ứng các nhu cầu và hạn chế khác nhau. Điều này đòi hỏi các khái niệm và tiêu chuẩn mới phải tích hợp thiết bị đặc biệt và gần với thời gian thực, bao gồm các thành phần của phần mềm quản lý hoạt động và tự động hóa của họ. Cách tiếp cận kỹ thuật theo mô-đun nói trên, rất thuận lợi cho kỹ thuật công nghệ của công nghệ quy trình theo mô-đun và chúng tôi hy vọng việc sử dụng kỹ thuật theo mô-đun sẽ gia tăng nhanh chóng trong tương lai gần và trung hạn. Các ngành công nghiệp định hướng theo lô sẽ là các ngành đầu tiên áp dụng phương pháp này và chúng tôi hy vọng rằng các công ty xử lý liên tục trên quy mô lớn sẽ bắt đầu suy nghĩ về việc hợp lý hóa mô hình kỹ thuật, xây dựng và hoạt động của họ và áp dụng các khái niệm này.

Định Tính Điện Tử và Tuân Thủ Điện Tử

Đó là quan điểm của Tiến Sĩ Tauchnitz Tauchnitz Việc phân tích các rủi ro liên quan đến quy trình và thiết bị về chất lượng sản phẩm, cần được phản ánh trong đặc điểm kỹ thuật theo yêu cầu, các kế hoạch kiểm tra và định tính. Phân tích này có thể được thực hiện có hệ thống dựa trên các thông tin trong công cụ CAE và quy trình của nó có thể hoàn toàn tự động trong một hệ thống như vậy. Các kết quả kiểm tra và định tính có thể được liên kết với các yêu cầu về thiết bị thông qua việc phân tích rủi ro và vì vậy quy trình từ đặc điểm kỹ thuật đến tuân thủ có thể được thực hiện theo cách không cần giấy tờ và có thể được xây dựng hiệu quả như một phần mở rộng cho hệ thống CAE thông minh. Một số nhà cung cấp đang đi tiên phong theo cách tiếp cận này với các công ty có tầm nhìn ngày nay, tạo ra các lợi ích đáng kể từ tính hiệu quả và tính chính xác. ARC hy vọng rằng tính năng này sẽ sớm trở thành tính năng chủ đạo, vì áp lực tuân thủ đối với tất cả các ngành công nghiệp gia tăng liên tục và các công ty cần phải ứng phó với áp lực này bằng cách tạo ra hiệu quả bổ sung.

Kỹ Thuật Tích Hợp

Việc Tích Hợp Thiết Kế Quy Trình, Kỹ Thuật và quy trình hoạt động của Nhà Máy và nguyên tắc Tauchnitz thứ ba: 'các công cụ phần mềm vẫn duy trì tương tác trong khi nhà máy sản xuất đang hoạt động' cũng có ý nghĩa quan trọng với cả các công ty EPC và OO.

Trong các giai đoạn thiết kế và xây dựng khách hàng của chúng tôi cho chúng tôi biết rằng sự trao đổi giữa các công ty EPC và OO đã trở nên thường xuyên và mạnh mẽ hơn trong những năm qua. OO muốn duy trì ở vị trí hàng đầu trong số các lựa chọn của EPC trong suốt hành trình thiết kế, đánh giá tiến độ và đồng quản lý và đồng sở hữu công trình. Ngày càng có nhiều những trao đổi như thế này sử dụng các công cụ CAE thông minh phổ biến mà cho phép các bên chia sẻ, hình dung và thảo luận về công việc thiết kế. Thậm chí quan trọng hơn, cái gọi là bàn giao từ EPC cho OO khi việc vận hành thử diễn ra ngày càng nhiều hơn dưới dạng điện tử. Tài liệu bằng giấy truyền thống thì cồng kềnh và tốn thời gian để tìm và quản lý và gần như không thể cập nhật được. Ngày nay ngày càng nhiều OO muốn có một bộ dữ liệu thông tin về tài sản thông minh dạng điện tử, phản ánh tình trạng 'như đã tạo', để có thể cập nhật trong suốt vòng đời của nhà máy. Điều này không chỉ hiệu quả nhìn từ góc độ nguồn lực, mà ngày càng trở thành một yêu cầu pháp lý để có thể tạo ra các tài liệu cập nhật về tài sản và thể hiện sự tuân thủ.

Từ quan điểm rằng nhà máy này bắt đầu hoạt động lần đầu tiên sau khi được xây dựng hoặc sửa lại, ít nhất hai hoạt động bổ sung, khác nhau sử dụng thông tin về tài sản. Kỹ thuật sử dụng thông tin về nhà máy để lên kế hoạch cho những thay đổi hoặc cải thiện như khai thông tắc nghẽn, tích hợp nhiệt, cải thiện chất lượng hoặc các dự án khác. Đồng thời, bảo trì sử dụng dữ liệu để xử lý sự cố, sửa chữa, đặt hàng phụ tùng, và hơn thế nữa. Nếu thông tin về tài sản không được lưu trữ trong thời gian vận hành và bảo trì nhà máy, độ chính xác của nó sẽ giảm dần theo thời gian và khi kỹ thuật cần bắt đầu một dự án họ sẽ mất nhiều tháng quý báu vào việc tìm ra tình trạng thực tế của tài sản là gì, thay vì làm việc trên nhiệm vụ kỹ thuật khi đó. Do đó, một lợi ích quan trọng của việc sử dụng các công cụ CAE thông minh là việc sử dụng chúng trong toàn bộ vòng đời của nhà máy và việc tích hợp kỹ thuật, quy trình hoạt động và quy trình bảo trì bằng cách sử dụng dữ liệu thông tin về tài sản cập nhật, duy nhất.  Do đó, thông tin kỹ thuật và về thiết bị trở nên không thể phân biệt được và thông tin 'như đã tạo' được chuyển thành thông tin 'như được lưu trữ'.

Việc thiết kế công việc và các quy trình cần phải được điều chỉnh để đảm bảo rằng các thay đổi kỹ thuật và nhà máy được ghi lại trong kho lưu trữ Thông Tin về Tài Sản hoặc CAE. Ngoài ra tại đây cũng cần có một sự thay đổi về văn hóa, cùng với các dòng mô tả ở trên đối với các tổ chức kỹ thuật.

Dựa vào lời chứng của khách hàng, chúng tôi tin rằng người dùng có thể đạt được một số người-tháng về kỹ thuật và thời gian bảo trì cho mỗi nhà máy. Các lợi ích liên quan đến sự cố an toàn và các tình huống khẩn cấp là rất khó xác định. Trong các tai nạn nghiêm trọng, sự sẵn có và chất lượng của thông tin làm cơ sở cho các quyết định đã được chứng minh là đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định chính xác và giảm thiệt hại, thương tích và tử vong. Riêng chi phí cơ hội của việc ngừng sản xuất liên quan đến thông tin về tài sản sẽ dễ dàng biện minh cho nỗ lực thực hiện kỹ thuật được tích hợp.

Liên Kết Hoạt Động Với Hệ Thống Điều Khiển và Các Hệ Thống Khác

Nhưng đây không phải là tất cả. Tiến sĩ Tauchnitz đưa tầm nhìn xa hơn bằng cách nêu rõ rằng một mô hình chung để lập trình DCS và PLC cần phải là một phần của công cụ CAE. Thông qua một giao diện phổ quát các chương trình có thể được xuất sang các thương hiệu tự động hóa khác nhau và được lập trong thiết bị, với mục đích tái sử dụng các mô-đun lập trình được tiêu chuẩn hóa trong các loại thiết bị khác nhau. Tác giả cũng mở rộng khái niệm của ông về cấu hình của hệ thống sản xuất, chẳng hạn như MES hoặc Quản Lý Hoạt Động.

Đối với cả EPC và OO, điều này giúp tiết kiệm thời gian đáng kể trong hệ thống điều khiển kỹ thuật. Đối với OO, trong các giai đoạn hoạt động-bảo trì của nhà máy, lợi ích sẽ còn quan trọng hơn. OO thường sử dụng một số thương hiệu hệ thống điều khiển và có thể được hưởng lợi từ một cách tiếp cận kỹ thuật thống nhất cho nhiều thương hiệu. Khi các hệ thống điều khiển được cập nhật và thay đổi trong lĩnh vực này, một thách thức nảy sinh trong việc giữ cho các thông tin kỹ thuật/về tài sản được chính xác. Tổ chức người dùng NAMUR (www.namur.net) đã ứng phó với thách thức này bằng cách xác định một định dạng dữ liệu chuẩn cho việc trao đổi giữa các hệ thống điều khiển quy trình (PCS) và các công cụ CAE (Khuyến Nghị NE 150 của NAMUR, được công bố vào tháng 10 năm 2014). Tiến Sĩ Tauchnitz mới đây đã báo cáo về một nhóm sản phẩm trưng bày thực hiện việc định dạng trao đổi dữ liệu này đối với một thẻ DCS, giữa bốn hệ thống CAE (Aucotec, Bentley, ESP, Siemens) và ba hệ thống PCS (ABB, Siemens, Yokogawa). Điều này sẽ mở ra nhiều khả năng và lợi ích cho người dùng cũng như các nhà cung cấp hệ thống. Động lực ban đầu được sử dụng để tạo ra các sản phẩm trưng bày cần được duy trì.   Người dùng cần yêu cầu thậm chí nhiều nhà cung cấp hơn phải thực hiện đầy đủ và việc sử dụng nó cần phải trả hết cho người dùng về hiệu quả kỹ thuật, cho các nhà cung cấp CAE bằng cách tăng quy mô thị trường và yêu cầu các nhà cung cấp PCS thực hiện đầy đủ vì chi phí vòng đời có lợi hơn.

Việc liên kết hoạt động với MES hoặcQuản Lý Hoạt Động Sản Xuất (MOM), vẫn còn là một giấc mơ cho tương lai, cũng như là một trao đổi hai chiều với việc mô phỏng quy trình. Nếu theo đuổi các đối tượng đó thì sẽ đạt được rất nhiều lợi ích khác sẽ. Công việc đối với giao diện hai chiều giữa các công cụ CAE và PCS cho thấy rằng những gì được coi là không có khả năng có thể trở thành hiện thực một cách nhanh chóng, khi tầm nhìn, kỹ năng giao tiếp và sự hợp tác nhiều bên cùng xảy ra. Điều này cũng đúng đối với sự liên kết hoạt động giữa CAE và MOM hoặc mô phỏng quy trình.

Tiêu Chuẩn Hóa

Cuối cùng, Thomas Tauchnitz phát triển tầm nhìn cho việc tiêu chuẩn hóa và thực hiện trên toàn doanh nghiệp, giảm số lượng các hệ thống và giao diện, tổ chức việc bảo trì tập trung và hỗ trợ và thúc đẩy việc quản lý tri thức trên toàn công ty. Khía cạnh này của tầm nhìn chưa nhận được nhiều chú ý, nhưng từ kinh nghiệm và nghiên cứu trường hợp của khách hàng về việc thực hiện các ứng dụng MOM, chúng tôi biết rằng cách tiếp cận này làm giảm tổng chi phí sở hữu một ứng dụng, và qua đó rút ngắn thời gian hoàn vốn và làm tăng giá trị ròng. Do đó chúng tôi khuyên quý vị nên chú ý đến điểm này.

Kết luận

Thông tin kỹ thuật và thông tin về tài sản cập nhật, chính xác, dễ truy cập trong toàn bộ vòng đời của nhà máy mang lại các lợi ích về hiệu quả kỹ thuật quan trọng cho EPC và OO, mà người dùng các hệ thống này ước tính từ 5 đến 50%, tùy thuộc vào hiệu quả ban đầu của chúng và trình độ kỹ thuật đồng thời. Người dùng trải khắp các ngành công nghiệp chế biến khác nhau từ hóa dầu cho đến dược phẩm.

Hệ thống CAE thông minh cho phép kỹ thuật đồng thời và cộng tác. Hiệu quả kỹ thuật đạt được vì có một kho lưu trữ dữ liệu chính xác, cập nhật mà tất cả các kỹ thuật có thể truy cập vào tại bất kỳ thời điểm nào. Các hệ thống này giúp duy trì tính toàn vẹn của thông tin kỹ thuật.

Kỹ thuật đồng thời làm giảm thời gian của dự án, nhưng cũng làm giảm hiệu quả kỹ thuật đạt được. Mỗi công ty hay tổ chức cần xác định tỷ lệ kỹ thuật đồng thời so với kỹ thuật tuần tự tối ưu của mình.

Các thông tin về tài sản 'như đã tạo' (hay 'như đã sửa đổi') có thể được lưu trữ trong các hệ thống CAE thông minh, các hệ thống này trở thành một kho lưu trữ thông tin về tài sản 'như được lưu trữ' mà cả kỹ thuật, vận hành và bảo trì sử dụng và cập nhật, để đưa ra các quyết định tối ưu. Đây được gọi là thực hành 'kỹ thuật được tích hợp' này làm tăng sự an toàn và hiệu quả hoạt động. ARC ước tính rằng các công ty sẽ tiết kiệm lên đến vài tháng lao động kỹ thuật cho mỗi nhà máy mỗi năm..

Sẽ đạt được các thành tựu quan trọng về hiệu quả khi người dùng khuyến khích nhà cung cấp CAE và PCS thực hiện tiêu chuẩn NE 150 được công bố mới đây để trao đổi dữ liệu hai chiều giữa hai loại hệ thống.

Tiêu chuẩn hóa về hệ thống, phương pháp, kỹ thuật và các quy trình theo mô-đun, làm giảm tổng chi phí sở hữu, tăng năng suất và giảm chi phí đào tạo.

Bio: Valentijn de Leeus, Phó Chủ Tịch, Tập Đoàn Tư Vấn ARC

Valentijn là một chuyên gia-nhà đánh giá độc lập của dự án nghiên cứu của Ủy Ban Châu Âu về công nghệ thông tin và truyền thông, phát triển bền vững xã hội và thu hút lao động trong lĩnh vực sản xuất. Valentijn có bằng tiến sĩ (PhD) về khoa học kỹ thuật từ Đại Học Công Nghệ Delft (NL) phối hợp với Ecole Nationale Supérieure des Mines de Paris và IFP và cũng có bằng Thạc Sĩ Hóa Học tại Đại Học Tiểu Bang Utrecht ở Hà Lan. Được thành lập vào năm 1986, Tập Đoàn Tư Vấn ARC là công ty tư vấn và nghiên cứu công nghệ hàng đầu cho ngành công nghiệp và cơ sở hạ tầng.

SKF logo