Mang Đến Sức Mạnh cho Báo Cáo trong Tương Lai: Internet of Things (Thời Đại Internet của Mọi Vật) sẽ cách mạng hóa sản xuất công nghiệp như thế nào

2015 tháng hai 04, 08:50 CEST

TÁC GIẢ: Giáo sư, Tiến sĩ Detlef Zühlke Dominic Gorecky và Stefanie Fischer, bộ phận Hệ Thống Nhà Máy Đổi Mới thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu của Đức

Dưới áp lực toàn cầu hóa, ngành công nghiệp của chúng ta sẽ trải qua giai đoạn có nhiều thử thách lớn, bao gồm vòng đời sản phẩm ngắn hơn, sản phẩm mang tính tùy chỉnh cao và cạnh tranh khốc liệt từ các thị trường khác nhau trên toàn thế giới. Những thử thách này đã rất rõ nét trong thị trường điện thoại di động hiện nay. Vòng đời sản phẩm đã giảm xuống khoảng 6-9 tháng trong khi chức năng và độ phức tạp của sản phẩm lại ngày càng gia tăng.

Sự phát triển tương đương cũng đang diễn ra trong các lĩnh vực khác, ví dụ như trong ngành công nghiệp ô tô. Với các sản phẩm ngày càng phức tạp và vòng đời sản phẩm ngày càng bị thu hẹp hơn, công nghệ được máy tính hỗ trợ (CAX) tiếp tục phát huy tầm quan trọng trong giai đoạn tối ưu hóa gia tăng và tăng tốc sản xuất. Mặc dù sự tiến bộ của CAX trong mười năm qua đã cải thiện tính linh hoạt trong các giai đoạn thiết kế và lập kế hoạch, nhưng người ta vẫn dự đoán bước đột phá tương tự trong giai đoạn sản xuất thực sự. Khuynh hướng biến đổi sản phẩm cao cùng với vòng đời sản phẩm rút ngắn cần cấu trúc sản phẩm mau lẹ và linh hoạt mà có thể nhanh chóng được cấu hình lại để đáp ứng nhu cầu của sản phẩm mới. Sự tự động hóa truyền thống không thể mang lại mức độ linh hoạt này. Thay vào đó, cấu trúc nhà máy mô-đun bao gồm các thiết bị thông minh – có tên gọi “Cyber-Physical Systems- CPS" (Hệ Thống Điều Khiển–Vật Lý) – vốn là một phần của mạng lưới “Internet of Things”, là các yếu chính kích hoạt các bối cảnh sản xuất mang tính thích ứng, có thể giải quyết và xử lý các thách thức hiện tại.

Trong mười năm qua, chúng ta đã chứng kiến sự thay đổi cơ bản trong đời sống hàng ngày của chúng ta với sự xuất hiện và phát triển của Công Nghệ Thông Tin và Truyền Thông (ICT). Máy tính đang trở nên nhỏ đến nỗi chúng dường như biến mất bên trong hầu hết tất cả các thiết bị công nghệ của chúng ta. Ngoài tất cả những điều này, mọi vật giao tiếp trong một mạng lưới toàn cầu: Internet.


Khi chúng ta dự định đi theo con đường này vào tương lai, chúng ta thấy rằng hầu hết tất cả mọi vật hàng ngày sẽ trở thành những nút thông minh trong mạng lưới toàn cầu. Hiện tượng này được gọi là “Internet of Things” (IoT); một xu hướng gần như chắc chắn sẽ len lỏi vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Xu hướng mạnh mẽ của thế giới điện-kỹ thuật và phân cấp của tự động hóa nhà máy sẽ chuyển thành mạng lưới nhà máy thông minh mà ngày càng được hưởng lợi từ những tiến bộ của ICT và khoa học máy tính. Ở Đức, cuộc tranh luận lớn về Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp thứ tư hay viết tắt là, "Công Nghiệp 4.0" đã bắt đầu.

Người ta ngày càng quan tâm đến thuật ngữ này kể từ khi thuật ngữ được giới thiệu hồi tháng 4 năm 2011 bởi Kagermann/Lukas/Wahlster (2011 – Tài Liệu Tham Khảo 1). Nhờ sự thúc đẩy của nhóm công tác gồm chuyên gia trong các cộng đồng khoa học và kinh doanh, tầm nhìn đã được đưa ra cho ngành công nghiệp Đức và dưới dạng các khuyến nghị dành cho chính phủ liên bang. Kết quả là, một chương trình nghiên cứu đã được xây dựng, với nguồn vốn khoảng 200 triệu euro trong vài năm tới. Bên cạnh đó, ba hiệp hội công nghiệp lớn của Đức (VDMA, ZVEI, và BitKom) đã tham gia vào lực lượng nhằm tạo ra một diễn đàn chung để hỗ trợ công tác điều phối tất cả các hoạt động của Công Nghiệp 4.0.

Những hành động này đã góp phần vào sự cường điệu hóa nói chung chủ yếu được thúc đẩy thông qua các kênh truyền thông. Tuy nhiên, cũng có sự quan tâm thực sự đối với một phần của các ngành công nghiệp sản xuất nhằm đạt được sự thành công bền vững của tầm nhìn này. Đức là quốc gia công nghệ cao và tạo ra một phần lớn tổng sản phẩm quốc nội (GDP) từ hoạt động sản xuất hàng hóa cũng như từ các thiết bị sản xuất cần thiết. Mục dưới đây sẽ trình bày những thách thức cơ bán cũng như những thay đổi được dự đoán trong tầm nhìn của Công Nghiệp 4.0.

Tầm nhìn của ngành Công Nghiệp 4.0

Một đặc tính đặc trưng của môi trường công nghệ mới là sự chuyển đổi sang các hệ thống cơ điện tử. Điện tử sẽ là bộ phận cơ bản của các sản phẩm trong tương lai trong khi phần cứng sẽ ngày càng được tiêu chuẩn hóa. Đặc tính chính quyết định các chức năng sẽ do phần mềm tạo ra. Theo cách này, các yếu tố của máy móc truyền thống sẽ được chuyển sang hệ thống cơ điện tử. Chức năng có thể được thực hiện bởi cơ khí, điện tử hoặc phần mềm. Do đó, thiết kế và sản xuất cũng như dịch vụ cần một nhóm liên ngành, kết hợp năng lực kỹ thuật cơ khí, điện và phần mềm vào một kỹ sư chung.

Đối tượng thông minh 

Động cơ chính của tầm nhìn Công Nghiệp 4.0 là “Internet of Things” (IoT). Trong tầm nhìn này, tất cả các ‘đối tượng’ của nhà máy sẽ có một địa chỉ IP riêng và sẽ được tích hợp vào các hệ thống. Thuật ngữ kỹ thuật được đặt ra cho đối tượng này là ‘Cyber-Physical-System’ (CPS) (2012 – Tài Liệu Tham Khảo 2). Hệ thống phân cấp sản xuất truyền thống sẽ được thay thế bằng mô hình tự tổ chức phân cấp do CPS kích hoạt trong các nhà máy của tương lai. Các bộ phận trong phân xưởng và quy trình sản xuất sẽ trở nên độc lập và linh hoạt đến mức ngay cả quy mô lô hàng nhỏ nhất cũng có thể được sản xuất dưới điều kiện thay đổi sản phẩm nhanh và với số lượng tùy chọn bất kỳ.

Ví dụ, giao tiếp giữa máy móc với nhau cho phép các máy riêng lẻ đưa ra câu lệnh để chuyển sản phẩm thô hoặc để sử dụng dịch vụ sản xuất cụ thể nào đó. Bộ nhớ ngữ nghĩa của sản phẩm sẽ chủ động điều khiển quy trình sản xuất và do đó cho phép hoạt động sản xuất lớn phân cấp ở kích thước lô ‘1’.

Nhiều yếu tố thông minh này sẽ mang tính di động và được kết nối với nhau qua mạng lưới không dây, mà ám chỉ khả năng mất dữ liệu định vị quan trọng mà đã được chuyển hoàn toàn cho chúng tôi bằng ‘đoạn cuối của cáp’ trong hệ thống được nối cứng cũ (so sánh với Hình 1). Điều này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động của xưởng. Một nhân viên sử dụng thiết bị hoạt động di động, chẳng hạn như điện thoại thông minh, có thể không còn được bố trí ở một vị trí cụ thể nữa. Người dùng có thể ở một nơi nào đó trong phân xưởng sản xuất nhưng cũng có thể ở trong quán ăn tự phục vụ. Ứng dụng phải xem xét vị trí hiện tại của nhân viên để xác định xem một tính năng hiện có được hỗ trợ hay không. Để giải quyết vấn đề nan giải này, không chỉ cần hệ thống định vị trong nhà với các tính năng tương đương GPS mà còn cần phải tìm ra các quy tắc và phương pháp mới dành cho việc thiết kế các giao diện người-máy theo bối cảnh mà cho phép tách riêng phần cứng và phần mềm hoạt động hiện đang sử dụng.

Hình 1: Các đối tượng thông minh – Di động, mô-đun và phân cấp.

Các kiến trúc thông tin liên lạc mới

Các nhà máy hiện nay tuân theo cấu trúc thông tin phân cấp chặt chẽ. Ở các tầng trên, chúng ta thấy hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP), được lắp đặt trên các hệ thống kiểm soát phân xưởng (MES và NC/PLC) và ở tầng thấp nhất là hệ thống cảm biến và bộ dẫn động của phân xưởng có tên gọi là các thiết bị hiện trường. Mặc dù trong những năm gần đây, các tầng này ngày càng được tích hợp với nhau nhưng việc tích hợp hệ thống chính diễn ra theo chiều ngang chứ không phải theo chiều dọc. Mạng lưới CPS chắc chắn sẽ đòi hỏi một cách tiếp cận mới đối với các cấu trúc này. Cấu trúc dạng kim tự tháp phổ biến với đặc trưng là mạng lưới theo chiều ngang mạnh cũng như thông tin theo chiều dọc yếu sẽ được thay thế bởi cấu trúc mạng định hướng tên miền mà theo nguyên tắc, sẽ kích hoạt đường dẫn với số lượng bất kỳ trong tất cả các tầng thông tin của nhà máy.

Hệ thống nhà máy được xây dựng theo nguyên tắc IoT và CPS sẽ khiến cho hệ thống PLC hiện nay trở nên vô ích vì mỗi thiết bị đầu cuối sẽ giao tiếp với tất cả các thiết bị khác ngay cả khi được đặt ở một tầng khác. Đặc điểm kỹ thuật của logic quy trình (còn được gọi là tầng orchestration (kết hợp)) sẽ diễn ra trong mạng lưới, chứ không phải trong yếu tố kiểm soát chuyên dụng.

Mô hình lập trình mới

Ngày nay, chương trình kiểm soát diễn biến của hầu hết các bộ phận trên cấu trúc phần cứng mà thường được dựa trên các quy tắc và tiêu chuẩn đã tồn tại 20 năm trở lên. Trong thế giới CPS tự tổ chức được kết mạng trong tương lai, phần cứng và logic điều khiển phải được tách rời hoàn toàn. Lĩnh vực này đã có một số mô hình. Chẳng hạn như kiến trúc hướng đến dịch vụ (SoA) hay kiến trúc đa tác tử (MAS).

Cả hai biện pháp tiếp cận đều chứa đựng và tóm tắt chứcnăng của phần cứng và chứa các cơ chế dành cho hệ thống tự tổ chức. Ngoài ra, còn có một loạt các mô hình lập trình thừa nhận đặc điểm kỹ thuật của logic điều khiển hay tầng orchestration. Tuy nhiên, những phương pháp tiếp cận này đòi hỏi kiến thức cao về khoa học máy tính mà phức tạp hóa việc thực hiện ở cấp phân xưởng sản xuất bởi những người không được đào tạo về lĩnh vực chuyên môn này. Về phương diện này, việc di chuyển mô hình kiến trúc này từ tầng cao hơn của nhà máy nơi chúng đã phần nào được triển khai, thông qua hệ thống MES ở tầng giữa là cách có nhiều triển vọng nhất, mà cũng cần phải cần nhắc nền tảng kỹ thuật của nhân sự có liên quan.

Trong quy trình hoạch định và điều khiển sản xuất hiện nay, thiết kế hệ thống kiểm soát nằm ở cuối giai đoạn hoạch định bởi nó phụ thuộc vào kết quả của thiết kế cơ khí và điện. Công tác lập trình các điều khiển logic sẽ không bắt đầu cho đến khi các thiết bị đầu cuối điều khiển được lựa chọn và cách thức đấu điện những thiết bị này được quyết định. Các khái niệm trừu tượng như SoA có thể hữu ích đối với việc cắt đứt mối quan hệ với phần cứng thực hiện ban đầu và nhằm tạo ra các bộ phận phần mềm có khả năng tái sử dụng.

Cần thiết lập quy trình kỹ thuật mới nhằm mang đến phương pháp hoạch định không phụ thuộc vào phần cứng, thiết thực và theo hướng từ trên xuống. Cần tích hợp chặt chẽ hơn các tên miền hoạch định truyền thống, đặc biệt là trong các giai đoạn hoạch định ban đầu, nhằm tạo ra sự liên kết sau này trong quy trình hoạch định. Các phương pháp kỹ thuật hệ thống có thể giúp hỗ trợ các nhiệm vụ đa ngành, như đã được minh họa thành công trong lĩnh vực công nghệ hàng không.

Do đó, việc đưa ra cách trình bày rõ ràng là một thách thức do tính phức tạp của các kết quả hoạch định và mối tương quan giữa các ngành có liên quan. Điều này đòi hỏi phải có quy trình thiết thực để có thể đạt được chiến lược kỹ thuật gia tăng, dựa trên mô hình cũng như ngôn ngữ mô hình hóa, định dạng dữ liệu và chuỗi công cụ thích hợp.

Mục tiêu của các nhà máy thông minh trong tương lai phải là loại bỏ khoảng cách giữa môi trường CAX/PLM và phân xưởng hoạt động thực sự. Công cụ PLM phải có khả năng tạo ra các mô tả hệ thống hoàn chỉnh mà có thể chuyển trực tiếp thành các dịch vụ điều khiển khả thi. Tiếp đó, mã phải cho phép việc mô phỏng phân xưởng ảo cũng như thiết đặt và hoạt động của phân xưởng thực sự.

Tiêu chuẩn

Như đã mô tả trong phần mô hình cơ bản, việc tách riêng hoàn toàn phần cứng và chức năng chỉ có thể thành công nếu được dựa trên tiêu chuẩn. Phải xây dựng yếu tố CPS theo cách tương tự, ít nhất là về công nghệ thông tin, giống như khối xây dựng LEGO. Nói cách khác, yếu tố này phải giao tiếp dựa trên tiêu chuẩn ở tất cả các tầng của mô hình 7 tầng ISO/OSI. Ít nhất các tầng vận chuyển 1-4 đã dựa trên nhiều tiêu chuẩn được đặt ra chẳng hạn như tiêu chuẩn IEEE 802.xx hay tiêu chuẩn Giao Thức Internet IP; các tiêu chuẩn tương ứng dành cho các tầng 5-7 dựa trên ứng dụng sẽ chỉ ra đời dưới áp lực lớn của thị trường. Rõ ràng là không có nhà sản xuất nào hứng thú với ý tưởng biến sản phẩm của mình thành các khối LEGO có thể hoán đổi cho nhau. Cuộc tranh luận hiện nay về quy trình chuẩn trong lĩnh vực mạng lưới không dây công nghiệp (ví dụ: ISA100) hay ngôn ngữ đặc tả thiết bị (ví dụ: FDT) cho thấy cả sự phản kháng và mâu thuẫn lợi ích. Ít nhất là dường như có một biện pháp thực hiện đầy hứa hẹn với OPC UA dành cho các tầng 5-6 mà ngày càng nhiều nhà sản xuất và người dùng sẵn sàng chấp nhận.

Bảo mật

Đặc tính đặc trưng của các hệ thống điều khiển nhà máy tương lai là việc sử dụng mạng lưới dựa trên IP ở tất cả các tầng. Điều này hỗ trợ việc nhập dữ liệu từ thiết bị hiện trường vào hệ thống ERP ở mức cao hơn mà không có bất kỳ vấn đề nào. Tuy nhiên, điều này có thể khiến nhà máy có nguy cơ phải chịu các cuộc tấn công mạng mạnh hơn thông qua việc sử dụng các giao thức mở. Rõ ràng là STUXNET và các phần mềm độc hại khác (phần mềm ác ý) khiến mối đe dọa này trở thành thực tế. Cuối cùng thì môi trường sản xuất dựa trên CPS chỉ có thể được thực hiện thành công nếu doanh nghiệp có tiêu chuẩn bảo mật cao và tin tưởng vào công nghệ này. Điều này không chỉ đòi hỏi các giải pháp về công nghệ mà có thể quan trọng hơn là các biện pháp về tổ chức. Câu trả lời dứt khoát cho câu hỏi về bảo mật sẽ là vấn đề chính trong suốt quá trình và cần các đề xuất của ngành, nghiên cứu và chính phủ.

Tương lai trước mắt sẽ như thế nào?

Theo dự đoán, phiên bản này của tầm nhìn Công Nghiệp 4.0 sẽ thâm nhập vào môi trường sản xuất tương lại trong khoảng 10 đến 15 năm. Đối với tất cả các câu hỏi cần phải trả lời và tất cả các công việc nghiên cứu cần phải thực hiện, sẽ mất nhiều thời gian cho đến khi những bối cảnh sản xuất tổng thể này được triển khai trên toàn cầu và được chấp nhận trong các ngành công nghiệp của chúng ta.

Do đó, các yếu tố và đối tượng đầu tiên phù hợp với tầm nhìn này sẽ theo suốt chặng đường cách mạng trước khi tìm được cách thức sử dụng thực tế. Tính sẵn có của thông tin có độ phân giải cao cũng như việc giảm khoảng cách truyền thông tạo ra cơ sở để kích hoạt các môi trường sản xuất linh hoạt, minh bạch. Công nghệ ID tự động hiện có có thể giúp theo dõi các yếu tố và thể hiện chúng trong thế giới kỹ thuật số. Các thiết bị di động như máy tính xách tay, máy tính bảng và SmartGlasses mang đến khả năng truy cập tức thời vào kho kiến thức của doanh nghiệp hầu như từ bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào – trong và ngoài doanh nghiệp. Theo đó, các quyết định và hành động có thể dựa trên thông tin tổng hợp và chính xác và các phản ứng sẽ nhanh hơn, được hỗ trợ bởi các hệ thống trợ giúp, được thể hiện trong hình 2.

Hình 2: Các thiết bị di động và hệ thống trợ giúp thông minh trong sản xuất trong tương lai không xa.

Sáng kiến công nghệ SmartFactoryKL – một nền tảng minh họa và nghiên cứu không phụ thuộc vào nhà sản xuất – đã có bước tiến lớn hướng tới tầm nhìn Công Nghiệp 4.0 thông qua việc phát triển và triển khai các giải pháp kích hoạt các cấu trúc sản xuất linh hoạt, giải quyết các thách thức hiện tại của ngành công nghiệp. Trong mạng lưới gồm trên 30 đối tác công nghiệp, SmartFactoryKL kiểm tra và phát triển các công nghệ thông tin và truyền thông sáng tạo và ứng dụng của chúng trong một môi trường sản xuất công nghiệp thực tế. Trong dự án gần đây nhất, dây chuyền sản xuất có tính đột phá đã được xây dựng với nỗ lực chung của các đối tác công nghiệp chính (xem Hình 3). Dây chuyền sản xuất này hoàn toàn theo mô đun và cho phép việc tích hợp cắm và chạy của các mô đun sản xuất mới. Tính năng cắm và chạy được xây dựng dựa trên bộ tiêu chuẩn kỹ thuật về cơ khí, điện tử và thông tin do SmartFactory KL và các đối tác xác định.

Hình 3: Minh họa phân xưởng sản xuất tương lai trong SmartFactoryKL .

Viễn cảnh

Không có cuộc cách mạng công nghệ nào được khởi xướng một cách vội vàng. Thông thường, các biến động đã lần lượt diễn ra trong vài thập niên trong thời kỳ chuyển đổi mang tính cách mạng được thúc đẩy bởi những tiến bộ trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật (lực đẩy của công nghệ) nhưng cũng là kết quả của các nhu cầu mới của thị trường (lực kéo của thị trường). Dường như phong trào hiện nay hướng tới Công Nghiệp 4.0 sẽ có khía cạnh cách mạng tương tự kéo dài vài thập niên. Khía cạnh tích cực là Công Nghệ 4.0 sẽ cung cấp tầm nhìn rõ ràng mà cả nhà sản xuất và người dùng cuối đều có thể thích nghi được. Những kiến thức khoa học sâu rộng của môi trường CNTT sẽ được gắn chặt với các yêu cầu của môi trường sản xuất. Điều này đòi hỏi sự hợp tác liên ngành của các ngành vốn đang hoạt động riêng rẽ.

Tuy nhiên, con người sẽ là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình chuyển đổi này. Nếu phân tích ba cuộc cách mạng trước đây thì rõ ràng là nhu cầu và tiêu chuẩn sống của con người là động lực chính của các thay đổi. Khi những nhu cầu này đáp ứng đúng các điều kiện giới hạn của kỹ thuật thì có thể mang lại môi trường màu mỡ cho các thay đổi mang tính đổi mới. Kể từ sau Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp lần thứ ba, thường được biết đến như là Cuộc Cách Mạng Kỹ Thuật Số, nhiều công nghệ đổi mới cũng như các thay đổi về chính trị đã tác động lên cách con người sống với nhau. Các ví dụ điển hình bao gồm việc chấm dứt Chiến Tranh Lạnh, mở cửa thị trường toàn cầu – đặc biệt là thị trường của Trung Quốc – cùng với quy trình công nghệ (ví dụ: internet và nhiều thiết bị thông minh).

Con người không những đóng vai trò quan trọng trong điều khiển công nghệ mà còn đóng vai trò được thúc đẩy bởi công nghệ. ICT hiện đại giúp tăng tốc mạnh trong tất cả các quy trình kinh doanh cũng như trong bối cảnh toàn cầu. Sản phẩm dành cho các phân xưởng sản xuất và dịch vụ có thể được gửi đi khắp thế giới trong vòng vài giây trong khi các nghiệp đoàn toàn cầu có thể lập tức được thành lập để cung cấp các giải pháp. Các hệ thống hậu cần tích hợp và hiệu quả hơn trên đất liền, đường biển và hàng không có thể vận chuyển hàng hóa cho khách hàng trong khoảng thời gian ngắn hơn nhiều. Để thành công trong cuộc cạnh tranh toàn cầu, hệ thống sản xuất cần sự mau lẹ và khả năng chuyển đổi nhanh chóng. Điều này có thể thực hiện bởi các tiến bộ về ICT. Con người sẽ phải hoạch định, thực hiện và hoạt động thậm chí còn nhanh hơn trong môi trường hệ thống mới này. Chỉ những quốc gia trên thế giới điều chỉnh được công tác giáo dục và đào tạo người dân một cách kịp thời về những thực tại mới mới có thể thành công trên thương trường toàn cầu.

Châu Âu có vị thế tốt trong lĩnh vực này. Châu Âu là một trong các quốc gia hàng đầu trên thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu về hệ thống mạng nhúng, công nghệ ngữ nghĩa và thiết kế hệ thống điều khiển-vật lý phức tạp. Đây là một cơ hội tuyệt vời dành cho các ngành công nghiệp của Châu Âu để đạt được bước nhảy vọt đột phá về công nghệ và làm chủ những thử thách của thị trường toàn cầu.

Tài Liệu Tham Khảo

1. Kagermann, H., Lukas, W., Wahlster, W. (2011). Công Nghiệp 4.0: Mit dem Internet der Dinge auf dem Weg zur 4. industriellen Revolution, VDI-Nachrichten.
2. Geisberger, E., Broy, M. (2012). Integrierte Forschungsagenda Cyber-Physical Systems, Acatech Studie, Berlin.
3. Zuehlke, D. (2010). SmartFactory – Hướng Tới Nhà Máy của Mọi Thứ, Trong: Đánh Giá Điều Khiển Hàng Năm của IFAC, Tập 34, Số 1, ISSN 1367-5788


[KẾT THÚC]


Giáo sư- Tiến Sĩ -Ing. Tiến sĩ danh dự Detlef Zühlke

Detlef Zühlke là giám đốc bộ phận Hệ Thống Nhà Máy Đổi Mới thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Đức (DFKI-IFS) về Trí Tuệ nhân tạo ở Kaiserslautern. Ông cũng là người khởi xướng và chủ tịch hội đồng quản trị của SmartFactoryKL và giữ chức chủ tịch tự động hóa sản xuất tại Trường Đại Học Kaiserslautern.

Tiến sĩ-Ing. Dominic Gorecky
Dominic Gorecky là nhà nghiên cứu cao cấp và phó giám đốc của DFKI-IFS. Giữ vai trò này, ông chịu trách nhiệm quản lý khoa học và điều phối mang tính chiến lược của bộ phận.

M. Sc. Stefanie Fischer
Stefanie Fischer là nhà nghiên cứu và trưởng phòng thông tin liên lạc của SmartFactory. Giữ vai trò này, bà làm việc cho nhiều dự án khác nhau và chịu trách nhiệm về tiếp thị và truyền thông.

SKF logo